Phân độ suy tim | Phan do suy tim - Diễn Đàn Sinh Viên Trường Đại Học Y Hải Phòng
CHVF

Trở lại   Diễn Đàn Sinh Viên Trường Đại Học Y Hải Phòng >
CHUYÊN NGÀNH Y KHOA
> Nội khoa > Tim mạch(Nội 5)

Nội Quy Chatbox
Dư âm buổi Offline 4r Nhân Dịp Sinh Nhật Lần Thứ 2 !!! Updated video clip

Mời đóng góp ý kiến xây dựng diễn đàn wWw.svyhp.net

Thời khóa biểu - Lịch học



Trả lời
 
Công cụ bài viết Kiểu hiển thị
Cũ 11-04-2010, 10:03 AM   #1
lửa chưa bao giờ tắt
tranvu2106
[√įþ]Tổ4Team™
 
Avatar của tranvu2106
 
Tham gia ngày: Oct 2009
Bài gửi: 695
VND: 6,677
Thanks: 329
Thanked 937 Times in 376 Posts
Mặc định Phân độ suy tim

Khuyến cáo số 02 (1998) của Hội tim mạch học Quốc gia Việt Nam
(Classification of congestive Heart Failure - Recommendation No 02 1998 of the Vietnam National Heart Association)
Ðã thông qua Hội đồng khoa học Hội tim mạch học Việt Nam.
Báo cáo tại Ðại hội tim mạch học Quốc gia Việt Nam lần thứ VII,
Ðà Lạt tháng 11 năm 1998
Tiểu ban biên soạn:
GS. Vũ Ðình Hải (Trưởng tiểu ban)
GS. PTS. Nguyễn Thị Trúc
GS. PTS. Trần Ðỗ Trinh
PGS. Phạm Nguyễn Vinh
Trước mỗi bệnh nhân suy tim (ST), tất nhiên thầy thuốc nào cũng hình thành một khái niệm về độ nặng nhẹ và tiên lượng của trường hợp đó. Nhưng đưa ra những tiêu chuẩn của từng mức độ ST được đa số đồng nghiệp chấp nhận là việc không dễ dàng. Sở dĩ như vậy vì ST là một hội chứng có bệnh cảnh lâm sàng khác nhau về nhiều mặt: nguyên nhân, cơ chế sinh lý bệnh, triệu chứng, cơ địa v.v, rất khó "ghép" tất cả các trường hợp ST vào những khung cứng nhắc.
Trước những năm 60, các bác sĩ nước ta thường theo cách sắp xếp của GS. Ðặng Văn Chung đưa ra trong cuốn điều trị học (1) phân biệt 4 giai đoạn (GĐ) ST dựa trên dấu hiệu thực thể là chính.
Giai đoạn 1: Thở nhẹ, chỉ có khó thở, gan to và đau
Giai đoạn 2: Khó thở, gan to, phù chân
Giai đoạn 3: Triệu chứng trên rất rõ rệt, có khi có cổ trướng, tràn dịch màng phổi, nhưng còn khả năng hồi phục.
Giai đoạn 4: Suy tim không hồi phục nữa.
Sau đó một số bác sĩ lại theo cách của Glezer (Moskva 1973) chia 3 Giai đoạn (2)
Giai đoạn I: Chỉ khó thở và tim nhanh khi làm nặng, sau đó trở về bình thường chậm hơn người thường.
Giai đoạn II: Ðã có triệu chứng khó thở, phù, ứ huyết phổi, gan, thận. Giai đoạn này lại phân biệt ra:
II A: Những triệu chứng đó xuất hiện buổi chiều hoặc sau công việc nặng, mất đi sau nghỉ hoặc sau điều trị.
II B: Những triệu chứng đó xuất hiện thường xuyên và đột ngột.
Giai đoạn III: Biến đổi không hồi phục các cơ quan, chức năng bị rối loạn, thường có cổ trướng, suy dinh dưỡng.
Cách trên cũng phỏng theo cách của Tareev (3) đưa ra từ 1957.
Giai đoạn I: Lúc nghỉ không có triệu chứng gì, chỉ khi làm nặng mới xuất hiện khó thở, chóng mặt và trống ngực.
Giai đoạn II: Có khó thở rõ và tim nhanh cả khi lao động nhẹ. Tim to do giãn cơ (myogene), ứ huyết phổi hoặc đại tuần hoàn. Cũng chia 2 thời kỳ:
- Nếu ST phải trước, thời kỳ đầu gan to, phù chỉ có buổi chiều; thời kỳ sau có gan to nhiều, ứ huyết thận, phù thường xuyên hơn và lớn.
Giai đoạn III: Biến đổi tối đa, từ xơ hoá cố định và không đảo ngược ở các cơ quan (gan, phổi v.v…) đến suy mòn (GĐ loạn dưỡng theo Strajesco).
Từ cuối những năm 60, Vũ Ðình Hải căn cứ vào thực tiễn lâm sàng nước ta, đưa ra và áp dụng ở Bệnh viện Việt Tiệp - Hải Phòng một cách chia 4 độ ST. Cách này sau đó được viết lại cùng với Trần Ðỗ Trinh đăng ở Nội khoa 1980 (4) và được chấp nhận ở Hội nghị Nội khoa toàn quốc lần thứ II tại Ðà Nẵng 1979.
Suy tim 1 (suy tim nhẹ, suy tim tiêm tàng):
- Chỉ khó thở khi đi nhanh hoặc lên dốc (khó thở độ 1 theo Tổ chức Y tế Thế giới)
và/hoặc:
- Ho hoặc ho ra máu khi gắng sức như trên.
Suy tim độ 2 (suy tim trung bình, suy tim rõ):
- Khó thở cả khi đi đường bằng với vận tốc trung bình, hoặc đang đi phải dừng lại (khó thở độ 2 hoặc 3 theo TCYTTG).
- Gan chưa to, hoặc chỉ to ít (1-2 cm dưới bờ sườn, hoặc chỉ sờ thấy khi hít vào), hoặc tĩnh mạch cổ nổi rõ khi ấn vào hạ sườn phải.
Suy tim độ 3 (suy tim toàn bộ):
- Khó thở nhiều hay ít (từ độ 1 đến độ 3 theo TCYTTG).
- Gan to rõ rệt, 3 cm trở lên dưới bờ sườn, nhưng sờ vẫn thấy mềm.
- Tĩnh mạch cổ nổi rõ ở tư thế ngồi 450.
- Có thể phù nhẹ ở chân hoặc mắt, và/hoặc có nước trong màng phổi.
- Tất cả những dấu hiệu trên đều có thể điều trị hết được.
Suy tim độ 4 (suy tim không hồi phục):
- Khó thở cả khi làm vệ sinh cá nhân, hoặc khi mặc quần áo (khó thở độ 4 theo TCYTTG), bệnh nhân không tự phục vụ được.
- Gan to rõ rệt như độ 3, nhưng sờ đã thấy cứng.
- Phù lớn, toàn thân, có nước ở màng phổi hoặc màng bụng.
- Tất cả những dấu hiệu trên đều không giảm hoặc giảm ít khi điều trị.
Những ưu điểm và nhược điểm của cách chia độ này đã được GS. Nguyễn Thị Trúc phân tích trong Hội thảo chuyên đề bệnh lý tim mạch, như trích dẫn dưới đây:
"Cách chia độ này có thể nói là tổng hợp: độ 1 và 2 hoàn toàn căn cứ và triệu chứng chủ quan là khó thở ở những mức độ khác nhau. Ðộ 3 có yêu cầu thêm 1 tiêu chuẩn khách quan là gan to.
Ðộ 4 dựa vào đáp ứng điều trị.
Về mặt giải phẫu và sinh lý bệnh, độ 1 và 2 chỉ mới ứ huyết ở tiểu tuần hoàn, độ 2 có thêm ứ huyết tiềm tàng ở đại tuần hoàn. Ðộ 3 có bệnh cảnh suy tim phải rõ rệt và độ 4 các thương tổn đã trở thành không hồi phục được nữa.
Một thuận lợi của cách chia độ này là có thể áp dụng dễ dàng ở tất cả các tuyến điều trị, trong tuyệt đại đa số trường hợp suy tim. Cách chia độ này không có ích lợi trong suy tim cấp, các rối loạn nhịp tim, viêm màng ngoài tim, tứ chứng Fallot.
Cũng nên lưu ý là BN suy tim cùng một độ không hẳn có nghĩa là tiên lượng xấu ngang nhau, còn tuỳ thuộc vào bệnh căn nguyên. Như suy tim độ III do hẹp hai lá khác với cùng độ III do hở động mạch chủ.
Nhưng bên cạnh những ưu điểm trên, chúng tôi cũng còn thấy bảng chia độ này hơi phức tạp, những triệu chứng thực thể cũng hơi khó theo dõi".
Từ cuối những năm 80, các bác sĩ Việt Nam có điều kiện tiếp xúc nhiều hơn với các nhà đồng nghiệp nước ngoài, nhất là các nước nói tiếng Anh, nên cách "xếp loại chứng năng" của Hội tim New York (NYHA) ngày càng được phổ biến và áp dụng. Cách xếp loại này được đưa ra từ năm 1964, sau đó năm 1973 được Ban Tiểu chuẩn của NYHA sửa chữa đôi chút (5), đổi tên gọi là Tình trạng tim (Cardiac Status), cũng vẫn giữ 4 độ như trước:
Ðộ 1: Hoạt động thể lực hàng ngày không bị ảnh hưởng
Ðộ 2: Hoạt động thể lực hàng ngày bị ảnh hưởng nhẹ
Ðộ 3: Hoạt động thể lực hàng ngày bị ảnh hưởng vừa
Ðộ 4: Hoạt động thể lực hàng ngày bị ảnh hưởng nặng
Năm 1994, ban Tiểu chuẩn NYHA lại nhắc lại cách xếp loại chức năng trên nhưng chi tiết hơn như ở cột 1 bảng I.

(nguồn: http://nguyenxuantuananh.blogspot.com)

Xếp loại chức năng NYHA có những ưu điểm rõ rệt:
1. Ðơn giản, dễ vận dụng cho các bác sĩ, y tá và cả bệnh nhân nữa.
2. Có thể áp dụng cho các bệnh tim khác nhau.
3. Ðã tỏ ra ích lợi trong nhiều nghiên cứu, nhất là về tỷ lệ bệnh, tỷ lệ mới phát hiện tiên lượng, tỷ lệ tử vong, diễn biến, hiệu quả các biện pháp điều trị thuốc và không thuốc.
4. Giúp cho các bài giảng về ST dễ áp dụng hơn, nhất là về điều trị.
Vì những ưu điểm đó, cách xếp loại này đã được chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới trở thành một "ngôn ngữ chung" để thông tin và trao đổi kinh nghiệm.
Tuy nhiên, người ta cũng thấy cách xếp loại NYHA có một số điểm yếu:
1. Mô tả những rối loạn chức năng còn mơ hồ, thí dụ: sinh hoạt bình thường, dưới mức bình thường… còn phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế xã hội, và có thể hiểu nhiều cách khác nhau.
Do đó, tính lặp lại của nó chỉ có 56%, và tính vững chắc 51% (theo Glodman).
2. Bỏ qua các dấu hiệu thực thể, và các thăm dò huyết động, vì vậy không đánh giá đúng những rối loạn vô triệu chứng, nhất là ở những bệnh nhân ít chú ý đến sức khoẻ.
3. Chưa tính đến đáp ứng với điều trị.
Cách phân độ của Hội Tim mạch Canada, có những tiêu chuẩn chi tiết và đặc hiệu hơn. Nhưng cách này chỉ áp dụng được cho bệnh nhân đau thắt ngực, nên không giới thiệu ở đây (6).
Goldman và cộng sự năm 1981 (6) đưa ra một "bậc thang hoạt động đặc hiệu", để xếp loại căn cứ vào năng lượng tiêu thụ trong các hoạt động khác nhau. Ðơn vị ở đây là "tương đương năng lượng", viết tắt là MET, tức là năng lượng tiêu thụ cho một nam giới 40 tuổi, nặng 70 kg, ở trạng thái nghỉ ngơi.
1 MET tương đương với tiêu thụ oxy 3,5 ml/phút/kg, khoảng 1,2 KCalo. Thí dụ: đứng yên là 1 MET; đi bộ 3-4 dặm/giờ, tức 4,8- 6,4 km/giờ, là 3,5 MET; đánh quần vợt là 5-7 MET v.v. Những con số trên là đo ở Âu Mỹ, chúng tôi chưa được biết kết quả đo độ tiêu thụ oxy trong các hoạt động thể lực ở nước ta, chắc chắn kết quả phải khác nhau, vì khí hậu Việt Nam nóng hơn, và người ta quen những hoạt động khác với người Âu Mỹ.
Vì tiện lợi như vậy, nên nhiều quy tắc nghiệm pháp gắng sức dùng MET làm đơn vị công, như ở hình 1 dưới đây.
Hình 1: Sơ đồ tiến hành các nghiệm pháp gắng sức. Chú ý Ðộ chức năng (tức NYHA) I bắt đầu từ 7 MET; độ II từ 5 MET, phù hợp với Bảng I của chúng tôi ở cột 3.
Cột 3 bảng I của chúng tôi, cũng nêu số MET của vài hoạt động thể lực chính theo Goldman.
Khuyến cáo xếp độ suy tim. Do đó, chúng tôi đề nghị một cách xếp độ ST dưới đây (bảng I) theo nguyên tắc:
1. Giữ nguyên khung độ I-IV của NYHA mà nguyên văn có thể thấy ở cột 1 bảng I. Nhưng để đánh gía được cụ thể và chính xác hơn, có thể tham khảo các độ khó thở theo TCYTTG ở cột 2, và thang hoạt động theo Goldman bằng cách hỏi bệnh nhân có khả năng làm được những gì (cột 3).
2. Sau khi đã xếp độ I-IV theo các cột 1-3 là phần hỏi bệnh, người thầy thuốc, nếu cần, có thể chi tiết ra nhẹ và nặng, gọi tắt là a và b.
Thí dụ: Ðộ III, nên chi tiết ra IIIa, và IIIb.
Bảng xếp độ suy tim




Tiêu chuẩn xếp a hoặc b là căn cứ vào khám thực thể (cột 5-8) và xét nghiệm (cột 9-10). Chỉ cần một trong 6 cột này đạt tiêu chuẩn b là xếp b, không cần tất cả. Các nhà chuyên khoa có thể thêm các thăm dò kỹ thuật cao hơn vào sau cột 10.
Như vậy, chỉ hỏi bệnh kỹ đã có thể xếp độ I-IV NYHA. Khám thực thể sẽ giúp phân biệt a và b, thí dụ: IIa, IIIb, v.v.
Nếu có điều kiện làm các thăn dò sâu hơn, phân biệt a và b tất nhiên chính xác hơn, nhưng cũng không được "xét lại" độ NYHA đã xếp loại rồi.
Xin giải trình từng cột trong bảng I.
Cột 1: Là nguyên văn cách xếp độ của Hội Tim New York (5)(6)
Cột 2: Ðộ khó thở theo TCYTTG (7)
Cột 3: Thang hoạt động, xem bệnh nhân còn có thể làm được như vậy hay không. Nếu không, xếp độ dưới nặng hơn. Thang này theo Goldman, tính cho người Mỹ (6), nên khi áp dụng với người Việt Nam phải linh hoạt.
Ở cột này dùng đơn vị MET đã nói rõ ở trên.
Xong cột 3, tức là hết phần hỏi bệnh (căn cứ vào cột 1, tham khảo thêm cột 2 và 3), đã xếp độ I-IV NYHA rồi. Những cột sau 4-10, chỉ dùng để phân biệt a và b, chứ không quay lại độ NYHA nữa.
Trong 3 cột hỏi bệnh này, chọn cột nào có độ suy tim cao nhất thì tính. Thí dụ cột 1 là ST độ 2, cột 2 là ST độ 1, thì xếp vào cột 2.
Cột 5: Gan to, đo bằng cm dưới bờ sườn ở đường giữa đòn. Chỉ cần chú ý các ngưỡng 2 cm và 4 cm.
Cột 6: Cột này chung cho 3 dấu hiệu phù, ran ẩm và tĩnh mạch cổ nổi, là những biểu hiện ứ huyết dễ tìm. Chỉ cần một dấu hiệu là đủ. Và cũng chỉ cần phân biệt ( (không rõ lắm, nghi ngờ), + (rõ), ++ (rất rõ).
Cột 7: Tần số thất lúc nghỉ. Thông số này cần thiết để đánh giá cường độ giao cảm là một phản ứng quan trọng của ST. Chỉ cần xem nhanh hay không, lấy ngưỡng là 80 c/phút.
Cột 8: Sau 1-3 tháng điều trị đúng, nếu bệnh nhân thấy đỡ hơn thì coi là (+), nếu không coi là (-).
Tám cột trên, thày thuốc lâm sàng nào cũng áp dụng được để xếp độ I-IV và cả độ chi tiết a-b. Chúng tôi đã chọn những dấu hiệu có giá trị nhưng phải dễ tìm và đơn giản, vì đây là bảng xếp loại.
Cột 9: Tỷ lệ tim - ngực trên phim X-quang. Cũng có thể chiếu (scopie) nhưng không tin cậy bằng. Ngưỡng chọn 50 và 60% cho dễ nhớ.
Cột 10: Phân số tống máu bằng siêu âm. Cột này dùng cho các trường hợp ST tâm thu, và không áp dụng được cho các ST tâm trương như tăng huyết áp, viêm màng ngoài tim tràn dịch hoặc co thắt, bệnh cơ tim phì đại, xơ hoá dưới nội tâm mạc v.v.
Phân số tống máu chỉ cho một khái niệm về chức năng tâm thu, nhưng cũng có thể giúp phân biệt nặng nhẹ trong khuân khổ độ I-IV của NYHA.
Nhìn chung, cách xắp độ ST đề nghị ở đây, có ưu điểm:
1. Ðơn giản, áp dụng được ở tất cả các tuyến. Các nơi không có điều kiện chụp được X-quang hoặc siêu âm cũng có thể xếp độ và độ chi tiết được. Những cơ sở có trang bị kỹ thuật cao có thể mở rộng thêm các cột sau cột 10 về Doppler, chụp buồng tim v.v.
2. Vẫn theo khung NYHA, nên vẫn sử dụng được các nghiên cứu, kinh nghiệm thống kê, bài giảng ở nước ngoài, vẫn "đối thoại" được vì có một "ngôn ngữ chung" .


Tài liệu tham khảo
1. ÐặngVăn Chung: Ðiều trị học tập II, XB Y học, Hà Nội 1970, t.32.
2. G.A Glezer, trong sách cẩm nang bác sĩ nội khoa (tiếng Nga), Moskva 1973, t.98.
3. E.M Tareev: Trong sách Bệnh nội khoa (tiếng Nga). Moskva 1957, t.118.
4. Vũ Ðình Hải và Trần Ðỗ Trinh: Cách chia đọ suy tim. Nội khoa 1980, số 2,32-33.
5. Theo Criteria Committee of the NYHA: Nomenclature and Criteria for Diagnosis of Disease of the Heart anh Great Vessels. 7th edition, Boston, Little, Brow 1973.
6. G. Goldman, in Heart Disease, Braunwald 5th edition, Saunders, Philadelphia 1997, p. 12-13.
7. G. A Rose, H. Blackburn: Méthodes d'enquête sur les maladies cardiovasculaires. OMS, Gèneve 1969, p.189.

View more latest threads same category:
__________________
number: 01689339711

Lần sửa cuối bởi tranvu2106; 11-04-2010 lúc 10:06 AM
tranvu2106 đang ẩn   Trả lời với trích dẫn
Chia sẻ bài viết với bạn bè qua: FaceBook
The Following 3 Users Say Thank You to tranvu2106 For This Useful Post:
awesome (01-01-2012), my_destiny (13-01-2013), VuongHinh85 (14-08-2010)
Trả lời


Những người đang xem chủ đề: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Công cụ bài viết
Kiểu hiển thị

Quyền viết bài
Bạn không thể gửi chủ đề mới
Bạn không thể gửi trả lời
Bạn không thể gửi file đính kèm
Bạn không thể sửa bài viết của mình

BB code đang Mở
Mặt cười đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến


Múi giờ GMT +7. Hiện tại là 07:11 PM

vBulletin skin by: CHVF [HSSV] Y Hai Phong
Powered by vBulletin® Ver 3.x.x Copyright ©2000 - 2009, Jelsoft Enterprises Ltd.
© 2015 Việt Hóa Bởi Andy.Pro.
vBCredits v1.4 Copyright ©2007, PixelFX Studios

ChipLove's Family